Sử dụng “thất tình” để trị bệnh – Áp dụng lý tương sinh tương khắc

11/03/2019 03:07:34

Kinh, Hỷ thương Tâm; Nộ thương Can; Tư thương Tỳ; Bi, Ưu thương Phế; Khủng thương Thận”

Trong y thư cổ Hoàng đế nội kinh có thuyết, “ Kinh, Hỷ thương Tâm; Nộ thương Can; Tư thương Tỳ; Bi, Ưu thương Phế; Khủng thương Thận” . Có nghĩa: Kinh hãi và quá vui dễ gây tổn thương đối với tạng Tâm; tức giận dễ gây tổn thương đối với tạng Can; tư lự suy nghĩ quá độ dễ gây tổn thương đối với tạng Tỳ; bi thương, âu sầu quá độ dễ gây tổn thương đối với tạng Phế; sợ hãi quá độ dễ gây tổn thương đối với tạng Thận.

Thất tình có thể gây bệnh, nhưng cũng có thể sử dụng để trị liệu. Đông y quan niệm, tình chí thông ứng với Ngũ tạng, Ngũ tạng thông ứng với Ngũ hành – cho nên giữa chúng có quan hệ tương sinh – tương khắc giống như Ngũ tạng và Ngũ hành. (Ảnh: ĐKN)

Y học cổ truyền nhận định, “Thất tình” là bảy trạng thái tâm tình, bao gồm: Hỷ – Nộ – Ưu – Tư – Bi – Khủng – Kinh. “Hỷ” là vui vẻ, sung sướng; “nộ” là tức giận; “ưu” là u sầu, buồn bã; “tư” là tư lự, lo nghĩ, “bi” là đau buồn, đau thương; “khủng” là sợ hãi; “kinh” là kinh hãi, sửng sốt quá mức. Trong Đông y, “thất tình” được sử dụng để chỉ 7 loại “tình chí” (tình cảm, tinh thần) – có liên quan mật thiết đến sức khỏe và bệnh tật.

Thất tình có thể gây bệnh, nhưng cũng có thể sử dụng để trị liệu. Đông y quan niệm, tình chí thông ứng với Ngũ tạng, Ngũ tạng thông ứng với Ngũ hành – cho nên giữa chúng có quan hệ tương sinh – tương khắc giống như Ngũ tạng và Ngũ hành.

Cụ thể: Can Mộc khắc Tỳ Thổ, cho nên “nộ” có thể “thắng” (khắc chế) “tư”; “Tỳ Thổ khắc Thận Thủy, nên “tư” có thể thắng “khủng”; Thận Thủy khắc Tâm Hỏa, nên “khủng” có thể thắng “hỷ”; Tâm Hoả khắc Phế Kim, nên “hỷ” có thể thắng “bi”; Phế Kim khắc Can Mộc, nên “bi” có thể thắng “nộ”.


Giữa các loại tình chí có mối quan hệ tương khắc theo Ngũ hành như vậy, cho nên khi một loại tình chí quá khích, gây tổn thương đối với một Tạng nào đó, có thể dùng một loại tình chí khác khống chế . “Bi thắng nộ, hỷ thắng ưu, khủng thắng hỷ; nộ thắng ưu, tư thắng khủng” . Nghĩa là “bi” – đau thương có thể lấn át, tiết chế “nộ” – sự tức giận. Tương tự: “hỷ” tiết chế được “khủng”. Người xưa gọi phương pháp sử dụng tình chí để chữa bệnh như vậy là “Tình chí tương thắng” ; còn gọi là “Dĩ tình thắng tình” . Đó là một phương pháp trị liệu tâm lý hữu hiệu, rất độc đáo của Đông y. Những hỷ, nộ, ai, lạc chính là một phương thuốc trị liệu hữu hiệu. Vậy cụ thể như thế nào, hãy tìm hiểu điều đó qua một vài câu chuyện sau:

1. Trị bệnh bằng liệu pháp chọc cười


Sách Cổ kim y án có chép câu chuyện như sau: Một chàng trai vừa thi đỗ tú tài thì không may vợ qua đời, ưu sầu than khóc suốt ngày, lâu rồi sinh bệnh. Thầy mời đến đã nhiều, thuốc uống đã đủ loại, mà bệnh không đỡ. Sau được danh y Chu Đan Khê xem mạch và bảo: “Mạch của anh là “hỷ mạch” (mạch phụ nữ mang thai), xem chừng đã được vài ba tháng…”. Chàng trai liền ôm bụng cười và nói: “Ông là danh y mà không hiểu, nam và nữ có chỗ khác nhau sao? Thật chẳng khác gì bọn lang y tầm thường!”. Sau đó, mỗi lần nghĩ đến chuyện này, chàng trai lại khoái chí cười to, thường lấy đó làm trò tiêu khiển cùng bạn hữu. Ngày tháng trôi qua và bệnh khỏi lúc nào không biết.


Khi ấy, Chu Đan Khê mới giảng giải cho chàng tú tài nguyên lý “dĩ hỷ thắng ưu” – lấy vui thắng buồn tức áp dụng cách chọc cười để trị liệu. Đây cũng là lấy hành Hỏa để khắc chế hành Kim.


Ưu sầu – trầm uất là trạng thái sa sút nghiêm trọng về tinh thần. Theo Đông y: “ưu thương Phế” , ưu khiến cho Phế khí kết tụ – Phế khí thu tán, thăng giáng thất thường, mất điều hòa. Tạng Phế bị bệnh (“ưu thương phế”) , dần dần dẫn đến các chứng trạng toàn thân: chức năng miễn dịch bị suy giảm.


Những phụ nữ hay u sầu, thường dễ mắc chứng kinh nguyệt không điều hòa, hành kinh đau bụng và nhiều loại bệnh phụ khoa khác. Để chữa trị những chứng bệnh nói trên, sử dụng “hỷ lạc liệu pháp”, theo nguyên tắc “dĩ hỷ thắng ưu” , trong nhiều trường hợp, còn có tác dụng mạnh hơn là dùng thuốc đơn thuần.

2. Trị bệnh bằng liệu pháp làm cho đau khổ

Sách “Hồi kê y thư” có câu chuyện: Một thư sinh nghèo, sau nhiều năm đèn sách, đỗ trạng nguyên và được phong quan tại huyện nhà. Do quá cao hứng, sinh ra mất ngủ và trên đường về nhà, tưởng tượng cảnh “áo gấm vinh quy” sung sướng quá, thì đột nhiên phát bệnh: Tình chí thất thường, suốt ngày cứ lẩm bẩm một mình, đá chân múa tay lung tung, khóc cười vô cớ…


Tùy tùng liền vội mời một vị danh y đến chẩn trị. Sau khi xem mạch, vị danh y thất sắc, giọng đau buồn nói với bệnh nhân: “Bệnh của trạng nguyên không thể chữa được nữa rồi, e rằng khó có thể qua nổi 7 ngày. Ngài nên cố đi cho thật nhanh về nhà, để gặp mặt người thân lần cuối”. Nghe xong, trạng nguyên rất sợ hãi, toàn thân toát mồ hôi lạnh, ngã lăn xuống đất. Tùy tùng đưa lên kiệu, ngày đêm chăm sóc, cho xe đi thật nhanh để kịp về quê. Hôm sau tỉnh dậy, trạng nguyên cảm thấy niềm vui bấy lâu nay đã tan biến, suốt ngày chỉ lo sợ không về kịp gặp mặt người thân lần cuối.

Làm cho đau khổ, bi ai cũng là một liệu pháp trị bệnh tình chí. (Ảnh: xuehua.us)


Thế nhưng, 7 ngày sau về đến nhà, không những không chết, mà bệnh khỏi, cử chỉ và hành vi hoàn toàn bình thường. Chính lúc vị tân khoa đang hoài nghi, nghĩ rằng thầy thuốc chẩn đoán sai, thì tùy tùng mang đến một bức thư. Mở ra xem thấy viết: “Đại nhân trúng trạng nguyên, được phong chức cao, quá cao hứng, không thể tự khống chế, tâm thần thác loạn. Loại bệnh này sử dụng thuốc không thể chữa được. Cho nên tôi đã cả gan lấy cái chết ra để đe dọa, làm khiếp sợ. Đây là một liệu pháp trị bệnh, mong được lượng thứ. Nay bệnh đã khỏi, không còn gì phải lo ngại nữa”.

Trong “thất tình”, hỷ (vui) là một kích thích có lợi. Thông thường, tinh thần vui vẻ lạc quan rất có ích đối với sức khỏe. Vui vẻ, rất ít khi làm cho con người sinh bệnh. Tuy nhiên, vui đột ngột, vui quá mức, như điên như dại, thì “lạc cực sinh bi”, có thể làm cho tạng Tâm bị tổn thương, thần chí mất cân bằng, khí huyết bị rối loạn, thậm chí có thể làm chết người.

Để chữa trị, Đông y thường áp dụng “kinh khủng liệu pháp” theo nguyên lý “dĩ khủng thắng hỷ”; lấy sự sợ hãi để tiết chế trạng thái quá vui. Đối với con người, không gì đáng sợ bằng cái chết; nhất là đối với những người đang giàu sang, quyền cao chức trọng. Để “dĩ khủng thắng hỷ”, y gia thời xưa thường hay dùng cái chết để đe dọa, nói chung thường chứng kiến hiệu quả như thần.

3. Trị bệnh bằng liệu pháp làm cho vui vẻ

Đời Kim – Nguyên, danh y Trương Tùng Chính, tự Trương Tử Hòa (1156 – 1226), đã chữa cho viên quan Tư hầu ở Tức Thành lâm bệnh nặng sau khi nghe tin cha bị giặc giết, khóc thương quá độ đến nỗi ngất đi. Bệnh hơn một tháng, uống thuốc gì cũng không khỏi. Khi Trương Tử Hòa đến khám bệnh, biết rõ sự tình nên đã tìm cách làm cho Tư hầu phải cười phá lên. Qua trận cười đó, bệnh giảm dần và 3 ngày sau thì hết bệnh, chẳng cần thuốc nào cả. Đó là thuật Hỉ thắng Ưu (Bi).

Lại có câu chuyện, danh y tên Trương Tử Hòa là người rất giỏi chuyên trị các chứng nan y kỳ quái. Ngày nọ, một người tên Hạng Quan Lệnh tới nhờ ông thăm khám cho cha anh mắc căn bệnh rất kỳ lạ. Bụng thì đói nhưng lại không muốn ăn, cả ngày hò hét, tức giận mắc chửi người khác. Dù đã uống nhiều loại thuốc vẫn không khỏi.

Sau khi nghe được, danh y bèn nói với người nhà tìm hai người phụ nữ, hóa trang thành những diễn viên kịch, giả bộ ngây ngô làm ra một số động tác ngu ngốc đáng cười trước mặt bệnh nhân. Người nhà nghe được về nhà làm theo, quả nhiên tâm trạng bệnh nhân trở nên vui vẻ và bệnh tình thuyên giảm đi nhiều.

Lại nói người nhà nhờ hai người đàn ông ăn khỏe, ở trước mặt người bệnh mà ăn uống ngốn ngấu. Bệnh nhân nhìn thấy cũng bất giác ăn theo. Bằng cách sử dụng liệu pháp kích thích dẫn dắt làm cho vui vẻ, bệnh tình dần ổn định và cuối cùng khỏi hẳn.


Theo ĐKN