Thần Phật không quản họa nạn của thế gian, chỉ vì tâm người thiếu mất một chữ

24/01/2017 02:08:00

Con người thường than oán, vì sao Thần Phật thần thông đại hiển không quản ma nạn tai ương nơi nhân gian. Nhưng tất cả chúng ta đều không biết, trong tâm người thiếu mất một chữ.

(Ảnh: Internet)


Năm xưa, có câu chuyện cổ từ thời nhà Nguyên, một năm họa nạn lũ lớn dâng cao, cả Chiết Giang và Giang Tô đều chịu hại, lũ tràn vào làng nhấn chìm nhà cửa và đất đai trồng trọt. May thay lũ đến ban ngày, người dân đều biết đường mà gắng chạy. Duy chỉ có gia đình hai mẹ con nọ, một bà mẹ đau ốm với cô con gái tên A Liên 15 tuổi. Vì nhà nơi trũng thấp, bà mẹ gọi A Liên: “Nhanh lên con gái, mau chạy đi, hãy để mặc ta ở đây” . A Liên không chịu, nhất quyết cõng mẹ theo trên lưng, khó nhọc bước đi.

Bà mẹ ốm yếu thấy lũ sắp tràn đến nơi, lòng nôn nao lo lắng, cố dùng chút sức lực cuối cùng đẩy A Liên ra. Vừa lúc mái nhà sập xuống, A Liên thoát nạn nhìn mẹ chết đuối trong dòng lũ, thống thiết khóc than mà ngất đi.

Khi tỉnh lại, A Liên thấy mình đang nằm trên một chiếc thuyền nhỏ, một ông lão đang chèo thuyền và một bà lão bưng nước ấm đến cho nàng rửa mặt. Nhìn cơn lũ chảy xối, A Liên bất giác nhớ đến mẹ, nàng kêu khóc thảm thiết, bất lực trước nghiệt ngã đau đớn. Ông lão chèo thuyền cố gắng an ủi nàng:


“Ôi con gái ta, trận lũ lớn này là tai ương lớn, và mẹ con không phải là người duy nhất chịu nạn”.

Nàng oán thán trời cao, vì sao nói rằng Thần Phật từ bi với con người, tại sao thấy tai ương này Thần Phật không quản, tại sao con người lại phải chịu nỗi đau mất mát người thân bi ai này?


Mấy hôm sau, một cơn lũ khác lại ập đến. Ba người trên thuyền cố gắng đi cứu những người nào họ gặp. Chuyện thật chẳng may, trong lúc cố gắng cứu vớt người, mà vợ chồng ông lão chèo thuyền đuối sức trôi xuống dòng lũ lớn.


Bơ vơ cô quạnh một mình trên chiếc thuyền, chẳng biết làm sao, A Liên phó mặc tất cả, để thuyền mình trôi theo dòng lũ lớn. Năm ngày trôi qua, cuối cùng chiếc thuyền cũng dạt đến một hòn đảo nhỏ, A Liên gần như sắp chết vì đói và khát. Trong cơn mê man, nàng nghe thấy giọng một bà lão nói: “Ta đến từ Thiên quốc, đang khất hành chốn nhân gian. Đang đợi một quý cô trẻ tuổi, trong sáng như viên kim cương và tươi như bông hoa sẽ đến?”


A Liên nghe vậy, không biết năng lượng từ đâu, nàng vùng dậy và la lên: “Con, con yêu hoa huệ vì nó trong sáng như viên kim cương”. Nghe vậy, bà lão ôm A Liên vào lòng nhìn nàng với ánh mắt từ bi.

A Liên cầu xin bà lão được cùng bà đi hành khất.


Mười năm sau, khi đang tránh bão trong một ngôi chùa, bà lão hỏi A Liên: “Tại sao con lại thích hoa huệ? Tại sao con lại thích kim cương?”


A Liên đáp lại bằng một nụ cười: “Con nghĩ rằng con người nên tươi như hoa huệ và trong sáng như kim cương”.

Nghe điều này, bà lão nói:


“Đây là một ước mơ bình thường của con người. Con có thấy nhiều người dân trên bãi biển đi câu cá, nhiều người đã chết. Vì tiếc cho họ nên ta thường đi cầu nguyện ở bãi cá”.


“Tất cả những ai cho ta thức ăn, và họ không phạm sai lầm nào, như sát nhân hoặc cướp của, ta sẽ cố gắng để giải cứu họ”.

A Liên ngạc nhiên hỏi:


“ Ý của bà nghĩa là bà là một vị Bồ Tát giáng trần?”.


Bà lão từ bi đáp: “Không quan trọng ta là ai, nhưng con nên biết một điều quan trọng nhất – chúng ta phải giải cứu con người thoát khỏi tai họa, với điều kiện con người tin vào sự tồn tại của Thần. Nếu không nó sẽ chống lại sự giúp đỡ của Thần đối với con người”.


Nghe đến đây, A Liên ngay lập tức hiểu ra, và quỳ xuống cầu xin bào lão chỉ dạy cách cứu người khác thoát khỏi tai ương. Thấy được sự chân thành của nàng, bà lão đồng ý nhận A Liên làm đệ tử và nói:


“Ta đã gần bên con khi vào trận lũ năm xưa, vì con có căn cơ rất tốt và con là một đứa con hiếu thảo và dũng cảm. Ta biết, mặc dù còn trẻ, nhưng con đã cố gắng hết sức để giúp đỡ người khác.


“Ta cũng biết rằng, mặc dù mẹ con đã qua đời trong trận lũ, khi con cố gắng làm tốt, bà ấy cũng sẽ nhận được phúc báo, như chiếc thuyền đã cứu con. Mọi thứ tại thế gian con người đều chỉ là vô thường”


“Ta không để ý đến cách người khác đối xử với ta hay cách mà họ cho chúng ta đồ ăn, ta chỉ gắng sức mình để giải cứu họ thoát khỏi tai ương.


“Ngay cả những người đối xử tàn ác với chúng ta, ta đã ban cho họ cơ hội để trở nên tốt hơn. Tuy nhiên, đối với những người quá xấu, ta không thể làm được gì nhiều”.


Nghe những điều này, A Liên quyết tâm một lòng một dạ đi theo bà lão. Nhiều năm sau, khi A Liên đã ở tuổi ngũ tuần, bà lão nói với nàng: “Đã đến lúc ta phải đi rồi”.


A Liên ngạc nhiên hỏi: “Người sẽ đi đâu?”

Bà lão yêu cầu nàng quay mặt đi. Khi ngoảnh lại, trước mặt A Liên khi này không còn là một bà lão mù nữa mà là một vị Phật tỏa ánh hào quang chói sáng, từ bà một năng lượng từ bi phát ra mà nếu dùng ngôn ngữ con người thì không cách nào có thể miêu tả.

Thông qua ngón tay của Bồ Tát, nàng nhìn thấy vô số chiếc thuyền nhỏ trôi trên biển trong cơn bão tố, Bồ Tát từ bi dùng tay cứu vớt nhiều chiếc thuyền, trong khi nhiều người khác bị mất tích trên đại đương mênh mông.

Trên những cánh buồm mà Bồ Tát đang nắm lấy, nàng nhìn thấy hàng chữ “ban phúc” hoặc “đạo đức”, còn những chiếc thuyền đã biến mất trong đại dương có một vòng tròn lớn màu đen. Sau khi để cô gái chứng kiến tất cả những điều này, vị Bồ Tát dần dần bay lên cao, nàng quỳ xuống cung kính.


“Vì lòng từ bi đối với chúng sinh, ta đã đến thế gian con người. Niệm đầu tốt hay xấu của con người sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau. Giờ đây, đã đến lúc ta phải đi. Từ bi có thể cứu vãn con người thoát khỏi tai ương”.

Nàng đã giác ngộ khi nghe những điều này, cô đi lang thang các tỉnh ven biển xin bố thí và chia sẻ mọi người là lòng tốt và sự từ bi. A Liên tiếp tục tu luyện, đề cao tâm tính, nàng trở về trời năm 99 tuổi, hoàn thành sứ mệnh nơi nhân thế.

Trên thiên đàng, nàng thấy người mẹ và hai vợ chồng người lái đò đã cứu vớt mình. Để tỏ lòng biết ơn, nàng họ làm người canh giữ chốn Thiên Quốc.

Thần Phật vẫn luôn tồn tại, chỉ do nhân tâm con người thiếu mất chữ “tín”, không còn tín Thần, không còn tín Phật.  Khi con người không còn chính tín, không còn tin tưởng báo ứng, thì việc xấu nào cũng dám làm, mọi người nghi hoặc lẫn nhau, nguy cơ tứ bề, con người ngày càng xa rời khỏi Thần. Tuy nhiên, từ bi của Thần là vượt xa so với những gì con người tưởng tượng, ngay cả đến mức độ con người dám phỉ báng cả Thần, Thần vẫn cho con người thêm một cơ hội nữa.


Theo Vision Times